NHỮNG CÂU HỎI GIẢI THÍCH VỀ MÙA CHAY- PHỤC SINH
Đăng bởi mvtt   
Thứ tư, 14 Tháng 2 2018 07:09

 

NHỮNG CÂU HỎI GIẢI THÍCH VỀ MÙA CHAY- PHỤC SINH

Tại sao kiêng thịt mà không kiêng cá?

Luật Giáo hội buộc tín hữu phải ăn chay kiêng thịt. Nhưng mà tại sao phải kiêng thịt? Tại sao phải kiêng thịt mà không kiêng cá, kiêng trứng hay kiêng trái cây? Ăn thịt có gì xấu không?

Trước hết, nên lưu ý tới việc sử dụng từ ngữ. Tiếng “ăn chay kiêng thịt” gợi lên cho chúng ta hai điều: một điều cấm (kiêng) và một điều khuyến khích. Điều cấm là kiêng thịt; điều khuyến khích là ăn chay. Chắc Chúng ta đã biết rằng ở Việt Nam có vài tôn giáo đã hiểu như vậy: ăn chay có nghĩa là ăn đồ chay, những đồ lạt, không mặn. Còn đối với Kitô giáo, ăn chay có nghĩa là kiêng ăn. Như thế, ngoài chuyện kiêng thịt lại còn thêm chuyện kiêng ăn nữa.

Vì vậy nếu muốn diễn tả cho đúng tư tưởng thì thay vì nói “ăn chay kiêng thịt”, chúng ta phải nói “kiêng ăn kiêng thịt” hoặc là “chay ăn chay thịt”! Nếu đặt lại vấn đề như vậy thì câu hỏi “tại sao phải kiêng thịt” đã được giải quyết một phần rồi, nghĩa là chúng ta kiêng thịt không phải tại vì thịt nó xấu xa, cũng như chúng ta kiêng ăn không phải tại vì sự ăn uống xấu xa: sự ăn uống cần thiết cho sự sống; nếu ai tuyệt thực hoàn toàn thì sẽ sớm qua bên kia thế giới.

Chúng ta kiêng thịt không phải vì nó xấu; thế thì tại sao lại chỉ kiêng thịt mà không kiêng luôn cả cá nữa?

Vấn đề kiêng thịt không phải là cái gì riêng của Kitô giáo. Nó đã có một truyền thống lâu đời ở các tôn giáo trên thế giới, tuy với những lý do và động lực khác nhau. Chẳng hạn như các tín đồ Phật giáo kiêng thịt bởi vì họ tin vào thuyết luân hồi: khi giết các súc vật, biết đâu ta đã giết chính ông bà của mình bị phạt đầu thai làm kiếp súc vật. Dĩ nhiên, Kitô giáo đã đặt ra kỷ luật kiêng thịt không phải tại vì tin theo thuyết luân hồi nhưng dựa theo một động lực khác. Trong Cựu ước, ta đã thấy có những luật về kiêng thịt với những chi tiết khá phức tạp, thí dụ trong chương 11 của sách Lê vi, phân biệt những thú vật ô uế với vật tinh tuyền.

Tại sao lại có sự phân biệt giữa các thú vật tinh tuyền với thú vật ô uế?

Các nhà chú giải Kinh thánh không trả lời được. Có lẽ tác giả của sách Lêvi đã lấy lại một tập tục có từ xa xưa mà không còn ai nhớ rõ gốc gác. Cho dù lý do phân loại thế nào đi chăng nữa, đến khi bước sang Tân ước, ta thấy có những cuộc cách mạng quan trọng. Chúa Giêsu đã xóa bỏ sự phân biệt giữa các vật tinh tuyền và vật ô uế. Sự tinh tuyền và ô uế nằm ở trong lòng của mình chứ thú vật chẳng có tội tình chi cả (Mc 7,15). Tuy nhiên, xem ra các Kitô hữu tiên khởi (phần lớn gốc Do thái) không thể thay đổi não trạng nhanh chóng, thí dụ như ở chương 10 của sách Tông Đồ Công Vụ, ta thấy thánh Phêrô còn sợ chưa dám ăn một vài thứ chim trời đã bị xếp vào hàng ô uế; lật qua chương 15 (câu 20 và 29) ta còn thấy thánh Giacôbê muốn đòi buộc các tín hữu tân tòng phải kiêng tránh vài thức ăn. Nhưng thánh Phaolô đi mạnh mẽ hơn, nhất là vì ngài để ý tới dân ngoại hơn là tới dân Do thái.

Thực vậy, thánh Phaolô chấp nhận hoàn toàn giáo lý của Đức Kitô, theo đó chẳng có lương thực nào là ô uế hết. Nhưng có một vấn đề được đặt ra là có được ăn đồ cúng hay không? Trong thư gửi Rôma 14,14-16 thánh Phaolô đã phân biệt như thế này: tự nó, đồ cúng hay đồ không cúng chẳng có gì khác nhau, cho nên các tín hữu không phải kiêng cữ. Tuy nhiên, nếu có người non nớt bị vấp phạm vì việc người tín hữu ăn đồ cúng, thì mình phải tránh. Nói khác đi, mình kiêng ăn đồ cúng không phải tại vì nó là đồ ô uế nhưng mà mình phải tránh gây gương xấu cho người anh em mình; đây là một bổn phận thuộc giới răn bác ái yêu thương.

Như vậy, thánh Phaolô khuyến khích chúng ta cứ tha hồ ăn uống, phải không?

Thánh Phaolô không bao giờ xúi các tín hữu ăn uống say sưa; trái lại, ngài đã hơn một lần khiển trách những người lấy cái bụng làm chúa. Thánh Phaolô chỉ muốn huấn luyện lương tâm của các tín hữu, hãy tìm hiểu cái lý do của các luật lệ, chứ không phải chỉ giữ luật lệ cách máy móc. Tất cả các lương thực đều tốt bởi vì do Chúa dựng nên cho con người. Chúng ta hãy hưởng dụng để ngợi khen Ngài. Việc ăn uống có thể trở thành cơ hội để chúc tụng tạ ơn Chúa như chúng ta đọc thấy ở thư gửi Rôma 14,6. Tuy nhiên, cần có chừng mực.

Hơn thế nữa, thánh Phaolô khuyến khích các tín hữu hãy tiến thêm một bước nữa, biết hy sinh cả những cái gì được phép làm: việc kiêng cữ những điều tốt nằm trong chương trình thao luyện tinh thần giống như các lực sĩ tập luyện ở thao trường (1Cr 9,27), nhất là để hoạ theo gương của Đức Kitô chịu thụ nạn trên thập giá vì yêu thương chúng ta.

Nhưng nếu đã muốn kiêng khem lương thực thì kiêng hết các món, chứ sao lại chỉ kiêng thịt?

Như tôi đã nói ở đầu, trong Việt ngữ, vì đã quá quen với thành ngữ “ăn chay kiêng thịt” cho nên chúng ta chỉ giới hạn sự kiêng vào chuyện ăn thịt. Vấn đề kiêng cữ bao hàm việc kiềm chế hết những gì đem lại thỏa mãn thích thú, nhằm giúp cho ý chí chế ngự được bản năng. Theo một vài sử gia, trong những thế kỷ đầu tiên, Giáo hội phải mệt với những phe khắc khổ hơn là với phe phóng túng. Phe khắc khổ đòi Giáo hội phải ra luật buộc tất cả các tín hữu phải giữ chay.

Nhưng mà Giáo hội đâu có thể bắt hết mọi người phải trở thành nhà khổ tu được. Mặt khác, trong số các vị khổ tu thời đó, không thiếu những người chịu ảnh hưởng của thuyết ngộ giáo, coi xác thịt và hôn nhân là tội lỗi. Dù sao, việc khổ chế vào những thế kỷ đầu hoàn toàn mang tính cách tự nguyện. Nếu có luật lệ thì cũng chỉ giới hạn cho từng địa phương chứ không bao trùm toàn thể Giáo hội. Việc kiêng khem tuyệt đối thường được dành cho ngày thứ 6 tuần thánh, rồi dần dần kéo dài ra các ngày thứ 6 hằng tuần. Nhưng mà dần dần kỷ luật kiêng khem tuyệt đối (chay ăn) được gia giảm bởi vì nhiều tín hữu phải làm việc lao động nặng nhọc, cần ăn uống để lấy sức. Mức độ châm chế được thay đổi tùy vùng tùy nơi. Bên Trung đông, người ta kiêng cả sữa, bơ, trứng; nhưng mà bên Tây phương, người ta chỉ đòi kiêng thịt.

Từ thời Trung cổ, sự khổ chế tự nguyện biến thành khổ chế bắt buộc, nghĩa là trở thành luật buộc. Ngoài ra việc chay tịnh cũng là một hình phạt đền tội dành cho những hối nhân. Việc soạn thảo một bản văn pháp lý đòi hỏi phải xác định tỉ mỉ các chi tiết của nghĩa vụ. Hậu quả là người ta trở lại với não trạng của các luật sĩ vào thời Chúa Giêsu, với đủ thứ vấn nạn được nêu lên: luật kiêng thịt buộc phải kiêng những thứ gì? Có phải kiêng mỡ heo, kiêng sữa bò, tiết canh hay không? Các giống động vật nào phải kiêng: máu nóng hay máu lạnh? thú vật trên bộ hay là dưới nước? Ngan, ngỗng, vịt, lươn, rùa, sò ốc nhái có phải kiêng không? Các chuyên gia về luân lý tha hồ mà nghiên cứu tranh luận về các loại thịt. Tiếc rằng người ta đã mất đi cái động lực của nó là tinh thần khổ chế lúc đầu. Vì thế có cảnh ngược đời là có người mong tới ngày thứ 6 để có dịp đi ăn ở nhà hàng thủy sản thập cẩm. Đối lại là cái cảnh chảy nước mắt của bao dân nghèo phải chi tiền nhiều hơn vào ngày thứ 6, khi mà cá mắc hơn thịt.

Giáo luật ngày nay vẫn giữ nguyên tình trạng như vậy chứ?

Bộ giáo luật hiện hành vẫn còn duy trì luật kiêng thịt, tuy nhiên với một tinh thần mới của công đồng Vaticanô II mà đức Phaolô VI đã muốn tiêm nhiễm với Tông Hiến Poenitemini (17/2/1966). Tinh thần đó có thể tóm lại 3 điểm sau: Tiên vàn là phải kiêng những gì xấu xa, tức là kiêng phạm tội; nói khác đi việc chay ăn chay thịt phải được lồng trong tinh thần thống hối cải hoán.

Ngoài sự kiêng cái xấu, chúng ta hãy gắng tiến thêm một bước để kiêng cả cái tốt: sự kiêng cái tốt cũng nằm trong tinh thần đền tội và tu đức, để tập kiềm chế những đòi hỏi của bản năng dục vọng. Dưới khía cạnh này, lãnh vực kiêng khem rất là rộng: từ kiêng ăn uống cho tới kiêng thuốc lá, tivi, các thứ tiêu khiển giải trí, các thứ tiêu pha hoang phí. Bước thứ ba nữa là ngoài tính cách tiêu cực (kiêng lánh) cần thêm tính cách tích cực: nhịn ăn nhịn mặc để lấy tiền giúp đỡ người nghèo, tỏ tình tương trợ với người thiếu ăn thiếu mặc. Đó là cái động lực của việc kiêng khem. Các Hội đồng Giám mục sẽ tùy theo hoàn cảnh của mỗi địa phương mà đề ra những hình thái cụ thể trong việc áp dụng luật ăn chay kiêng thịt chiếu theo đ.1251 và 1253 của bộ giáo luật.

Lm. Phan Tấn Thành, O.P.

(http://daminhvn.net/

 

VIỆC CHE PHỦ CÁC ẢNH TƯỢNG

1.- Một thoáng lịch sử và cách giải thích tập tục này 


Kể từ rất sớm, các quy định của Sách Lễ Rôma, Sách Nhật tụng và Sách “Nghi lễ các Giám mục” yêu cầu rằng: trước Kinh Chiều của Thứ Bảy trước Chúa Nhật Chịu Nạn (tức Chúa Nhật V Mùa Chay)[1], các cây thánh giá, các ảnh tượng Chúa Giêsu và các thánh trên bàn thờ và khắp nơi trong ngoài nhà thờ, ngoại trừ các thánh giá và các hình ảnh trong  Đàng Thánh Giá, phải được bọc lại bằng một tấm khăn tím, khăn này không được mỏng khiến nhìn qua được, cũng không được trang điểm gì cả. Các cây thánh giá cứ được che phủ lại như thế cho tới khi cử hành nghi lễ long trọng gỡ khăn phủ cây thánh giá chính vào ngày Thứ Sáu tuần thánh. Còn các ảnh tượng vẫn được che phủ, bất kể có thể xảy ra lễ gì, cho tới khi đọc/hát Kinh Vinh Danh vào Đêm thứ Bảy tuần thánh. Thể theo một câu trả lời của Thánh Bộ Nghi Lễ ngày 14-5-1878, có thể không che phủ tượng thánh Giuse nếu tượng ở ngoài nhà thờ và trong tháng 3, vì là tháng tôn kính Thánh Cả, cho dù thời gian ấy rơi vào hai tuần trước lễ Phục Sinh.


Các thánh giá phải che phủ lại bởi vì trong thời gian này, Đức Kitô không còn đi lại công khai giữa dân chúng nữa, nhưng lánh mặt đi. Do đó trong Nhà nguyện của Đức giáo hoàng, trước đây người ta tiến hành che phủ thánh giá khi đọc các lời Tin Mừng sau đây: “Jesus autem abscondebat se” (“Đức Giêsu lánh mặt họ”; Ga 12,36).


Tác giả Durandus đưa ra một lý do khác để giải thích: Thần tính của Đức Kitô đã bị che phủ đi khi Người tới giờ chịu nạn và chịu chết. Do đó, các hình ảnh của các thánh cũng được che phủ, bởi vì không xứng hợp chút nào khi chính vị Thầy thì phải lánh mặt đi mà các tôi tớ thì lại xuất hiện!

 

2.- Cách thực hành trong Họi Thánh hiện nay


Sách Lễ Rôma, ở đầu phần bắt đầu Chúa Nhật V Mùa Chay (nhưng trong ấn bản mẫu thứ hai của Ủy Ban Phụng Tự trực thuộc HĐGMVN năm 1992, thì in ở cuối thứ bảy tuần IV, tr. 223), có câu chữ đỏ như sau: “Có thể giữ thói quen che ảnh tượng trong nhà thờ tùy theo quyết định của Hội Đồng Giám Mục. Các thánh giá thì che cho đến thứ sáu Tuần Thánh, sau nghi thức tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa”. Vào ngày thứ sáu Tuần Thánh, một khi cây thánh giá được dùng để tôn kính đã được vén khăn che, thì dường như hợp lý là tất cả các cây thánh giá đều được bỏ khăn che phủ cho các tín hữu tôn kính. Cũng theo tập tục, các ảnh tượng được che lại cho đến khi bắt đầu lễ Vọng Phục Sinh. Thật ra cũng có thể che phủ thánh giá sau Lễ Tiệc Ly (thứ Năm Tuần Thánh), vì số chữ đỏ 21 ghi rằng: “Sau đó [= sau khi đã kiệu Mình Thánh Chúa sang Nhà tạm], lột khăn bàn thờ, và nếu có thể, cất các thánh giá. Nếu còn thánh giá nào, phải phủ khăn”. Bên ngoại quốc, có những xứ còn đưa ảnh tượng và các thánh giá ra khỏi nhà thờ, chứ không chỉ che phủ khăn, nhất là sau ngày thứ Năm Tuần Thánh. Nhưng các hình ảnh của Đàng Thánh Giá và các hình ảnh trên kính màu thì không che. Tại một vài nơi, các thánh được che phủ lại vào ngày Thứ Tư Lễ Tro. Tại một số nơi khác, thì lại được che phủ vào Chúa Nhật I Mùa Chay. Bên Anh, vào ngày thứ Hai đầu tiên của Mùa Chay, người ta có thói quen che mọi tượng Chúa chịu đóng đinh, mọi thứ hình ảnh, các hộp đựng thánh tích, và cả bình đựng Mình Thánh Chúa. Vải được dùng là vải lanh (linen) trắng  hoặc lụa trắng có đính một cây thánh giá đỏ.


Theo chỗ chúng tôi biết, HĐGM Việt Nam chưa có tuyên bố gì về điểm này, tứ là vẫn để tự do. Nhưng HĐGM Hoa Kỳ thì có. Vào ngày 14-6-2001, các GM Hoa Kỳ chấp thuận một cách thích ứng số 318 của Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma và cho phép che phủ các tượng thánh giá và hình ảnh. Ngày 17-4-2002, Đức HY Jorge Medina Estevez, Tổng Trưởng Bộ Phượng Tự và Kỷ luật Bí tích đã viết cho Đức GM Wilton D. Gregory, Chủ tịch HĐGM Hoa Kỳ mà lưu ý rằng vấn đề này đúng hơn thuộc về luật chữ đỏ của Ngày Chúa Nhật V Mùa Chay. Trong khi chờ đợi quyết định này của HĐGM Hoa Kỳ được đưa vào với luật chữ đỏ ấy khi nào Sách lễ Rôma được phát hành chính thức lần nữa, việc che phủ các thánh giá và ảnh tượng tùy thuộc sự thẩm định của vị mục tử địa phương. Như thế cũng có nghĩa là việc che phủ là một chuyện nhiệm ý.

3.- Cách giải thích tập tục này hôm nay

Hôm nay người ta giải thích việc che phủ ảnh tượng theo quan điểm tâm lý: Việc che phủ ảnh tượng giúp chúng ta tập trung vào những điều cốt yếu trong công trình Cứu chuộc của Đức Kitô. Đây là một cách “ăn chay” không được nhìn những hình ảnh tô vẽ diễn tả vinh quang Phục Sinh của ơn cứu độ chúng ta. Cũng như việc ăn chay Mùa Chay kết thúc với lễ Phục Sinh, thì việc “ăn chay” nhìn tượng thánh giá đạt tới đỉnh cao khi thờ phượng cây gỗ thánh trên đó hy lễ Đồi Sọ được hiến dâng để cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi. Cũng thế, việc “ăn chay” không nhìn ngắm các hình ảnh vinh quang thuộc các mầu nhiệm đức tin và các thánh trong vinh quang, lên tới đỉnh cao vào Đêm Phục Sinh, khi đó các tín hữu lại đánh giá cao lần nữa chiến thắng vinh hiển của Đức Kitô khi Người sống lại khỏi mồ để mang đến cho chúng ta sự sống muôn đời.

Điều này đúng, nhưng nguồn gốc lịch sử của cách thực hành này phát xuất từ một tập tục rất thịnh hành bên Đức từ thế kỷ 9, đó là người ta trải một tấm khăn lớn đàng trước bàn thờ ngay khi bắt đầu Mùa Chay. Tấm khăn này, được gọi là “Hungertuch” (= khăn đói), che mắt tín hữu khỏi thấy được bàn thờ trong Mùa Chay, và chỉ được cất đi khi người ta đọc bài Thương Khó vào ngày thứ Tư Tuần Thánh tới chỗ “bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ra làm hai” (Mt 27,51).

Tuy nhiên, có những người cho rằng tập tục này là kỷ niệm của cách thực hành cổ xưa liên hệ đến việc đền tội công khai: vào thời xa xưa, theo nghi thức, các hối nhân [= các tội nhân công khai, do phạm những tội như giết người, ngoại tình, bội giáo] bị trục xuất khỏi nhà thờ vào đầu Mùa Chay, rồi được tha tội vào ngày thứ Năm Tuần Thánh, và chỉ được trở lại với các cử hành của Họi Thánh vào Đêm Vọng Phục Sinh. Sau khi nghi thức đền tội công khai kiểu này bị bỏ, thì một cách biểu tượng, toàn thể cộng đồng đi vào hàng ngũ các hối nhân bằng cách nhận tro vào ngày Thứ Tư Lễ Tro: dĩ nhiên, không có chuyện trục xuất toàn thể công đoàn khỏi nhà thờ. Bởi vì bây giờ không thể trục xuất các hối nhân (vì là toàn thể cộng đoàn) khỏi nhà thờ để họ khỏi thấy bàn thờ, “nơi cực thánh”, thì bàn thờ được che lại, không cho họ thấy, cho tới khi họ được hòa giải với Chúa vào lễ Phục Sinh. Cũng theo những lý do tương tự, vào thời Trung Cổ, các ảnh thánh giá và các thánh cũng được che phủ ngay từ đầu Mùa Chay.


Luật giới hạn việc che phủ vào Chúa Nhật V Mùa Chay đến trễ, chỉ khi có quyển Sách Nghi lễ các Giám Mục vào thế kỷ 17. Sau Công đồng Vatican II, có những vận động để bỏ việc che phủ này, nhưng tập tục vẫn còn được giữ lại, chỉ có điều là được làm cách nhẹ nhàng, không thúc bách như giữ một “tín điều”!

                                                                                                Lm PX Phan Long, ofm

 

-------------------------------------------------
[1] Theo lịch Phụng vụ cũ, bài Tin Mừng của CN V MC là Ga 8,46-59, cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu và giới lãnh đạo Do-thái; họ đã suýt ném đá Người. Và những bài Tin Mừng suốt tuần này đều trích từ TM IV và gợi lại sự căng thẳng ngày càng gia tăng giữa Đức Giêsu và nhà chức trách Do-thái.

Tại sao gọi là Tuần Thương Khó?

Chúa nhật lễ lá, bắt đầu Tuần thánh. Lịch Phụng vụ cũng ghi là Chúa nhật tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa. Trước đây, mùa thương khó bắt đầu hai tuần trước lễ Chúa Phục sinh, tại sao bây giờ rút còn một tuần?

 

Trước cuộc cải tổ lịch phụng vụ năm 1969, thì mùa thương khó bắt đầu từ Chúa nhật thứ năm mùa chay, và như vậy kéo dài hai tuần. Mùa thương khó gây một ấn tượng khá lớn cho các tín hữu. Tất cả các tượng ảnh trong nhà thờ đều bị phủ bởi màn tím cho đến lễ Vọng Phục sinh. Nhiều nhà thờ còn căng một bức màn lớn che khuất tất cả gian thánh. Có người giải thích là Chúa Giêsu đi trốn, bởi vì dựa trên bài Phúc âm thuật lại việc Chúa lánh mình khi dân chúng mưu toan ném đá Người. Thế nhưng với cuộc canh tân sau công đồng Vaticanô II, thì lịch phụng vụ không còn nói đến mùa thương khó nữa, mà chỉ còn Mùa Chay kéo dài cho tới lễ Phục sinh. Tuần lễ trước Phục sinh không phải là tuần Thương khó, nhưng từ ngữ “tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa” chỉ còn được gắn cho hai ngày: Chúa nhật lễ lá (Dominica in Palmis de Passione Domini) và thứ sáu tuần thánh (Feria VI in passione Domini). Vào hai dịp đó, phụng vụ đọc bài Thương khó: ngày Chúa nhật thì dựa theo Phúc âm nhất lãm thay đổi tùy theo chu kỳ ABC; còn ngày thứ Sáu thì luôn luôn đọc Phúc âm theo thánh Gioan.

Tại sao cuộc cải tổ phụng vụ lại bỏ mùa Thương khó? 

Thực ra thì không phải là bỏ, nhưng mà muốn trở lại với truyền thống cổ xưa thôi. Từ thời xưa, các Kitô hữu dành 40 ngày để chuẩn bị mừng Lễ Chúa Phục sinh. Vì thế thời gian đó được gọi là Mùa 40 (trong tiếng La-tinh là Quadragesima), chứ không phải là mùa thương khó. Trong thời gian này, các dự tòng được chuẩn bị qua chương trình huấn giáo sâu đậm để lãnh các bí tích khai tâm. Còn những người đã được rửa tội rồi thì được mời gọi xét mình về cuộc sống đức tin, xem mình đã trung thành thế nào đối với lời cam kết. Dĩ nhiên, đây cũng là thời gian để thực hành công cuộc cải hoán, qua việc cầu nguyện, hãm mình, bác ái. Vào thời Trung cổ, khi mà con số dự tòng không còn đáng kể nữa, thì công cuộc huấn giáo cũng bớt phần quan trọng. Từ đó, người ta chuyển sang việc suy gẫm cuộc Thương khó của Chúa.

Thương khó là gì?

Chúng ta có thể khảo sát ý nghĩa của từ này theo tiếng Hán Việt cũng như theo nguyên gốc La-tinh. “Thương” ở đây không có nghĩa là “yêu”, nhưng có nghĩa là “đau xót, đau đớn xót xa”, chẳng hạn như khi nói “thương tâm, đau thương, thảm thương, sầu thương”. Còn “khó” không phải trái nghịch với dễ; nhưng “khó” ở đây có nghĩa là “khổ”, chẳng hạn như “khốn khó, khốn khổ”. Nói tóm lại “thương khó” cũng tương tự như là “đau khổ”. Trên thực tế, nhiều bản dịch Việt ngữ dùng những từ “Tử nạn, Khổ nạn, Chịu nạn, Chịu khổ hình”. Đó là nói đến từ ngữ Hán Việt. Đến khi bước sang nguyên bản La-tinh, ta sẽ còn thấy nhiều ý nghĩa khác nữa. Từ “thương khó” dùng để dịch từ “passio” trong tiếng La-tinh (sang tiếng Pháp và tiếng Anh thì thêm chữ “n”: passion). Thế nhưng từ passio có tới ít là bốn nghĩa.

1/ Thường thì người ta giải thích rằng passio bởi động từ “patior, pati” (có nghĩa: chịu đau khổ).

2/ Một ý kiến khác hiểu tiếng passio theo nghĩa triết học, tức là “thụ động” (bị động), nhận hành động từ một chủ động khác. Như vậy “passio” đối ngược với “actio”.

3/ Một ý kiến thứ ba cho rằng passio bắt nguồn từ pathos trong tiếng Hy-lạp, và như vậy có nghĩa là cảm xúc, xúc động. Cũng theo chiều hướng đó, mà trong tâm lý học, passio thường được dịch là “đam mê, say mê, mê man”.

4/ Sau cùng, có người tán giải passio (passus) theo nghĩa là đi ngang qua, để nói đến cuộc vượt qua của Đức Giêsu: người trải qua sự khổ và cái chết để tiến vào vinh quang Phục sinh.

Trong 4 nghĩa vừa nói, nghĩa nào đúng hơn cả?

Trong bối cảnh của phụng vụ, thì nghĩa thứ nhất sát hơn nữa: passio có nghĩa là chịu đau khổ. Nói một cách cụ thể hơn, trong buổi cử hành phụng vụ, Hội thánh đọc lại các bài trình thuật Phúc âm thuật lại cuộc “khổ nạn” của Chúa Giêsu, từ lúc dùng bữa tiệc Vượt qua với các môn đệ (hoặc là từ khi vào Vườn Cây dầu, theo thánh Gioan), rồi bị bắt, bị xử án, bị đánh đòn, vác thánh giá lên núi Calvariô, nơi chịu tử hình. Chúng ta có thể đọc trình thuật này trong Phúc âm theo thánh Marcô chương.14-15; thánh Mattêu chương 26-27; thánh Luca chương 22-23; thánh Gioan chương 18-19. Cũng nên biết, là trong tiếng La-tinh, từ “passio” cũng được áp dụng cho trình thuật kể lại cuộc tử đạo của các Kitô hữu cổ thời.

Phụng vụ chỉ tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa Giêsu qua việc đọc bài Phúc âm nói về cuộc Thương khó của Chúa mà thôi hay sao?

Không chỉ có vậy mà thôi. Lòng đạo đức của các tín hữu còn tìm những hình thức khác để tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa qua các việc đạo đức cũng như qua cuộc sống. Xét về các hình thức đạo đức, thì các sử gia thường trưng dẫn những chứng tích bắt đầu từ thế kỷ IV (khoảng năm 380) bên Thánh địa, do một thiếu nữ tên là Egeria kể lại. Vào Chúa nhật lễ Lá, các tín hữu tại Giêrusalem tụ họp ở núi Cây dầu, rồi từ đó rước lá tiến vào thành thánh. Nhưng nhất là kể từ tối thứ năm tuần thánh trở đi, các tín hữu họp nhau tại một nhà thờ tên là Eleona trên núi Cây dầu để tham dự buổi canh thức đầu tiên, từ 7 giờ tối cho đến 11 giờ. Đến nửa đêm, bắt đầu buổi canh thức thứ hai, tại một nhà thờ gần đó, và nghe đọc bài Sách thánh về cuộc hấp hối của Chúa. Đến sáng thứ 6, thì đám rước di chuyển lên núi Calvariô, để nghe đọc bài tường thuật về cuộc Thương khó và cử hành việc suy tôn Thánh Giá. Và suốt ngày thứ sáu, nhiều cuộc suy gẫm lời Chúa được tổ chức bên cạnh nhà thờ kính nhớ mộ Chúa. Có thể nói được là từ đó trở đi, các tín hữu tìm cách diễn lại cảnh thương khó của Chúa theo gương các tín hữu Giêrusalem, không những là vào ngày thứ năm thứ sáu tuần thánh, mà còn kéo dài quanh năm nữa. Một hình thức khá quen thuộc đối với các tín hữu Việt Nam là ngắm 14 chặng đường thánh giá, đi theo Chúa Giêsu từ lúc bị xử án, rồi vác thập giá lên núi Calvariô, nơi Người chịu đóng đinh, chịu chết và mai táng. Nên biết là hình thức 14 chặng như hiện thời chỉ mới thành cố định từ thế kỷ XVII, chứ trước đây nó linh động hơn, chẳng hạn có nơi tính đến 7 lần ngã xuống đất, hoặc bắt đầu từ vườn Cây dầu, rồi bị bắt, bị điệu qua toà Anna, Caipha, vv.

Ở Việt Nam còn có hình thức ngắm 15 sự thương khó Chúa Giêsu nữa, phải không?

Có nhiều hình thức để suy gẫm sự thương khó của Chúa. Một hình thức đơn giản hơn cả là suy gẫm 5 dấu thánh: hai dấu nơi bàn tay; hai dấu nơi bàn chân, và một dấu nơi cạnh sườn. Một hình thức nữa là suy gẫm 7 lời của Chúa Giêsu trên thập giá. Hình thức ngắm 15 sự thương khó của Chúa thì dựa trên một căn bản khác. Tại sao lại có 15 ngắm? Tại vì nó hoạ theo giờ kinh Phụng vụ. Trong ba ngày cuối Tuần thánh, tại các đan viện hay nhà thờ chánh toà, người ta cử hành phụng vụ giờ kinh cách long trọng. Ở chính giữa nhà thờ người ta thắp một giá đèn hình tam giác, với 15 ngọn nến. Tại sao 15 ngọn nến? Có người gỉai thích là tượng trưng cho Chúa Giêsu với 12 tông đồ và 2 môn đệ. Sự thực thì 15 ngọn nến tương đương với 9 thánh vịnh giờ kinh Đêm (nay gọi là kinh Sách) và 5 thánh vịnh giờ Kinh sáng, cộng với thánh ca Tin mừng Benedictus. Cứ sau mỗi thánh vịnh thì người ta tắt đi một ngọn đèn. Tại sao vậy? Có người giải thích là nó tượng trưng cho các tông đồ và môn đệ lần lượt rút lui, bỏ Chúa một mình. Nhưng cũng có người giải thích cách đơn giản là đời xưa khi chưa có đèn điện thì tất nhiên là phải thắp nhiều đèn để đọc sách. Tuy nhiên, trời càng lúc càng về sáng tỏ, cho nên có thể tắt bớt dần dần các ngọn nến đi. Cho dù giải thích nguồn gốc lịch sử như thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải khâm phục các vị thừa sai trước đây đã tìm cách để giáo dân tham gia vào phụng vụ Giờ kinh của Giáo hội, dĩ nhiên không phải bằng việc hát các thánh vịnh La-tinh (mà họ chẳng hiểu gì) nhưng qua việc suy gẫm các sự thương khó của Chúa.

Việc tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa chỉ dừng lại ở việc suy gẫm mà thôi hay sao?

Còn nhiều hình thức khác nữa. Một hình thức khá phổ thông bên Âu châu trước đây là diễn tuồng Thương khó, mà Đức Cha Nguyễn bá Tòng cũng đã thích ứng sang tiếng Việt. Nên biết là tuồng Thương khó không phải chỉ diễn ra trên sân khấu, nhưng còn trở thành hoạt cảnh, nhiều khi biến thành một cuộc rước kiệu. Dù là suy niệm bài thương khó dựa theo Phúc âm, dù là đi đàng Thánh giá hay ngắm các sự thương khó, hoặc tham dự tuồng Thương khó, người tín hữu muốn nhớ đến Chúa Giêsu đã chịu đau khổ vì tội chúng ta; từ đó ta muốn tỏ lòng biết ơn bằng cách thông dự vào sứ mạng cứu độ của Người. Thánh Phaolô đã viết rằng tôi muốn chịu đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, muốn hoàn toàn sống cho Đấng đã yêu mến và hiến mạng vì ta (Gal 2,19-20). Thánh Phaolô cũng muốn lãnh nhận mọi đau khổ để góp phần vào cuộc khổ nạn của Chúa hầu giúp ích cho Hội thánh (Col 1,24). Thánh Phêrô tông đồ, trong bài thánh thi đọc vào kinh chiều Chúa nhật mùa Chay, cũng nhắc cho các tín hữu hãy coi cuộc thương khó của Chúa như một gương mẫu để dõi bước theo Người: “bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình” (1Pr 2,23). Thiết tưởng đó là ý nghĩa chính của các việc cử hành cuộc Thương khó của Chúa từ những thế kỷ đầu tiên tại Giêrusalem cho đến chặng đường thánh giá ngày nay: đó là chúng ta muốn đi theo Chúa.

 

Lm. Giuse Phan Tấn Thành
Nguồn: conggiao.info

-----------------o0o-------------------

 

40 ngày mùa Chay được tính thế nào? Mùa Chay bắt đầu khi nào? Ngày cử hành Lễ Phục Sinh hàng năm được tính toán thế nào?

40 ngày mùa Chay được tính thế nào?

Thời gian mùa chay trước lễ Phục Sinh thường được gọi là 40 ngày chay tịnh, nhưng thực ra có 46 ngày tính từ thứ 4 lễ Tro cho tới Chúa Nhật Phục Sinh. Vậy tại sao chỉ nói có 40 ngày?

T. Chúng ta cần trở ngược lại thời sơ khai của Giáo Hội, các môn đệ đầu tiên là những người Do Thái vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm về tầm quan trọng của ngày Sabat, vẫn được xem là ngày thứ 7. Bởi vì ngày Sabat được ghi trong sách Khởi Nguyên là thời gian để nghỉ ngơi và thờ phượng. 

Tuy nhiên Chúa Ki-tô lại phục sinh vào Chúa Nhật, ngày thứ nhất trong tuần. Chính các tông đồ và các ki-tô hữu đầu tiên đã thấy được rằng sự Phục Sinh là một cuộc sáng tạo mới nên họ chuyển ngày Sabat sang Chúa Nhật chứ không còn là thứ 7 như quan niệm của Do Thái nữa.

Đối với Ki-tô giáo, mọi Chúa Nhật đều là những ngày cử hành sự phục sinh của Chúa Ki-tô, các tín hữu không được ăn chay, và làm những hình thức đền tội trong các ngày này. Các Chúa Nhật không được tính vào thời gian chay tịnh mùa Chay.

Vậy để có được 40 ngày chay tịnh như Chúa Giê-su, mùa Chay bao gồm 6 tuần lễ với 6 ngày ăn chay trong tuần, cộng với 4 ngày từ thứ tư lễ Tro cho tới thứ 7 trước Chúa Nhật thứ nhất mùa Chay. 36 + 4 = 40.

Mùa Chay bắt đầu khi nào?

Mùa Chay được bắt đầu với thứ tư lễ Tro trước lễ Phục Sinh 46 ngày. Tuy nhiên, vì lễ Phục Sinh không được ấn định vào một ngày cố định cho mỗi năm, do vậy, phải biết cách tính lễ Phục Sinh theo Tây lịch.

Ngày cử hành Lễ Phục Sinh hàng năm được tính toán thế nào?

T. Lễ Phục Sinh không có một ngày cử hành nhất định hàng năm như lễ Giáng Sinh với ngày 25-12. Công đồng Nicea (325) ấn định ngày lễ Phục Sinh hàng năm là Chúa Nhật thứ nhất kể từ ngày rằm đầu tiên của tiết xuân phân.

Tưởng cũng nên biết rằng lễ vượt qua của Do thái là ngày 14 tháng Nissan, tức là trước ngày trăng tròn của tiết xuân phân. Và các giáo hội Đông phương cũng lấy ngày này để mừng lễ Phục Sinh.

Để có thể tính được ngày lễ Phục Sinh hàng năm của Công Giáo, cần đi theo trình tự sau:

– ngày xuân phân hàng năm là 21-3 (theo tây lịch)
– ngày trăng tròn (ngày 15 theo âm lịch) đầu tiên sau ngày 21-3 này
– Chúa Nhật thứ nhất tính từ ngày trăng tròn này, đó là Chúa Nhật Phục Sinh.

 

Lm. Pr. Nguyễn Đức Thắng, GP.Long Xuyên
Ngu
ồn: baoconggiao.net

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
Xem kết quả: / 0
 

TIME BELONGS TO GOD

Giờ Lễ

VISITORS

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday2869
mod_vvisit_counterYesterday3085
mod_vvisit_counterThis week22048
mod_vvisit_counterLast week20612
mod_vvisit_counterThis month55383
mod_vvisit_counterLast month72609
mod_vvisit_counterAll days1843887

NĂM MỤC VỤ GIA ĐÌNH 2018

 

Tin Giáo Hội hoàn vũ

You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.

Playlist: 0 | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33 | 34 | 35 | 36 | 37 | 38 | 39 | 40 | 41 | 42 | 43 | 44 | 45 | 46 | 47 | 48 | 49 | 50 | 51 | 52 | 53 | 54 | 55 | 56 | 57 | 58 | 59 | 60 | 61